Lm. Trần Quốc Anh, S.J.

Học viện Dòng Tên – ĐH Santa Clara, Hoa Kỳ

DẪN NHẬP:

Có thể nói hiện tượng di dân không phải là điều mới lạ. Hơn 200.000 năm trước, loài người hiện đại  (homo sapiens sapiens) từ lục địa Phi sang Cận Đông, rồi từ đó phân bố trên toàn thế giới. Trước khi biết chăn nuôi và trồng trọt, con người sống nhờ vào thiên nhiên qua săn bắn, hái lượm, nên cuộc sống du mục di chuyển thường xuyên là điều tất yếu. Ngay cả sau khi đã hình thành nền các nền văn minh nông nghiệp bằng cuộc sống định canh định cư, không ít các nhóm vẫn di chuyển chỗ ở từ vùng này sang vùng khác, để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng trong thế kỷ XX và XXI con số di dân ngày càng tăng vọt vì nhiều nguyên do: Chiến tranh, tị nạn, đói kém, công ăn việc làm, tác động của thiên tai lũ lụt, ô nhiễm môi trường sống, v.v… Không giống những đợt di dân của các thế kỷ trước, các phương tiện giao thông hiện đại, như tầu thủy, xe khách, xe lửa, máy bay, đã rút ngắn thời gian, tạo điều kiện cho việc di chuyển từ vùng này sang vùng khác được dễ dàng hơn. Ngoài ra các phương tiện truyền thông hiện đại: Điện thoại, radio, TV, internet, cũng ít nhiều tác động trên tâm lý của người di dân, tạo nên các làn sóng di dân hiện nay. Theo thống kê của các tổ chức quốc tế đặc trách di dân, người lao động và tị nạn, hiện nay có hơn 232 triệu dân quốc tế (UN – DESA, 2013) và 740 triệu di dân nội địa (UNDP, 2009).1

Ở nước ta, dân tộc Kinh đã trải qua khá nhiều cuộc di cư. Từ thời Lý-Trần-Lê (thế kỷ XI – XV), dân cư từ các vùng Thanh Hóa – Nghệ An vào lập nghiệp trên phần đất cũ của Chiêm Thành. Đặc biệt từ thế kỷ XVII về sau, có nhiều đợt di cư lập nghiệp từ miền Trung vào đến Biên Hòa/ gia Định. Càng về phương Nam, dân tộc Kinh càng phải thích nghi với những vùng đất mới và sống chung với các sắc dân khác – người Chăm, Khmer, Minh Hương (Hoa Kiều). Trong những thế kỷ XVII – XIX, do tác động của chiến tranh và các cuộc bắt đạo, người Việt còn di cư sang Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao và Trung Quốc.

Nội trong nửa sau của thế kỷ XX, miền Nam đã đón nhận hơn 2 triệu người Bắc di cư. Và từ 1975 đến nay, hàng triệu người Việt còn di cư ra nước ngoài dưới diện tị nạn hoặc đoàn tụ gia đình. Ngoài ra, tình hình kinh tế của Việt Nam gặp nhiều khó khăn sau 1975 dẫn đến việc xuất khẩu lao động trong thập niên 1980 – 1990 sang Liên Xô và Đông âu   (CHDC Đức, Tiệp, và Bungari), và từ năm 1995 đến nay, sang các quốc gia trong khu vực Châu Á.

Tính đến năm 2012 đã có hơn 4 triệu người định cư và lao động nhập cư ở nước ngoài.2  Ngoài những di dân vĩnh viễn, nhiều nhất là ở Bắc Mỹ, Úc, và Tây Âu, phần lớn đã nhập tịch vào nước sở tại, có khoảng 500.000 người lao động nhập cư, 1/3 trong số đó là phụ nữ, đang làm việc Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mã Lai, v.v…

Đó là chưa kể hàng triệu người từ các tỉnh phía Bắc vào miền Nam làm việc ở các khu công nghiệp Bình Duông, Đồng Nai, do chính sách kinh tế thị trường sau thời kỳ Đổi Mới.3 Sự tăng vọt theo cấp số nhân của di dân trong vòng 30 năm qua ở trong và ngoài nước mang lại nhiều thách đố trong việc phát triển kinh tế xã hội – trong đó có đời sống tâm linh, tôn giáo của những người nhập cư và tạm cư này.

Bài viết này phác họa một số thách đố và cơ hội cho công việc mục vụ cho người di dân Việt Nam từ một góc nhìn thần học. Có chăng một thần học cho người di dân? Và nếu có,  thì những suy tư thần học này đóng góp gì cho công việc mục vụ di dân?

TÌNH TRẠNG CỦA NGƯỜI DI DÂN

Mặc dù di dân bao gồm những người, vì nhiều lý do khác nhau, phải thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn, bài viết này không nhắm đến những người tị nạn (refugees, as – sylum seekers), là những người bị buộc rời bỏ quê hương vì chiến tranh, chính sách trù dập, phân biệt kỳ thị về chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, v.v… Bài viết này tập trung suy tư thần học về thân phận của những người di cư tự nguyện vì lý do kinh tế (economic migrants).

Khi nói đến di dân kinh tế, thường phân biệt giữa người tạm cư và người định cư vĩnh viễn. Hai nhóm người này có những nhu cầu xã hội và tâm linh khác nhau.

Những người tạm cư phần lớn là thanh niên, thanh nữ, gồm cả trẻ em vị thành niên. Họ tập trung ở các đô thị như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và các khu công nghiệp trong nước cũng như ở các nước trong khu vực châu Á/ Thái Bình Dương. Họ là những người di cư ngắn hạn hoặc di cư thời vụ ( những người kiêm thêm việc làm để tăng thu nhập ngoài mùa gieo trồng, hái gặt). Phần lớn người tạm cư không di chuyển cùng gia đình, lý do có thể là họ chưa lập gia đình hoặc gia đình họ vẫn đang cư trú tại địa bàn nơi họ ra đi. Họ có thể là sinh viên, công nhân sản xuất hay xây dựng, người giúp việc nhà, bán hàng rong, v.v… Họ thường chỉ có một hộ khẩu tạm trú, hoặc tạm trú tạm vắng, và ít gắn bó với cộng đồng địa phương. Mỗi mùa lễ, Tết, họ thường trở về nguyên quán nếu có điều kiện.

Những người định cư phần lớn là di dân tự do hoặc chính sách định canh định cư, giãn dân số của nhà nước. Họ đi theo gia đình và làng xóm, và thường có nhiều quan hệ cộng đồng. Những người Bắc di cư năm 1954 và những làng di cư vào các khu Kinh Tế Mới ở miền Nam hoặc Tây Nguyên giai đoạn 1975 – 1990 thuộc dạng nạy. Gần đây biến đổi khí hậu và tác động môi trường đã được Liên Hợp Quốc khuyến cáo chính phủ Việt Nam có nhữn chính sách tái định cư.4

So với người sở tại và định cư lâu dài, cuộc sống của những người tạm cư gặp nhiều khó khăn và thách đố. Ngoài những sinh viên tạm xa gia đình để học tập, đa số các người tạm cư lên thành phố hoặc vào những khu công nghiệp tìm việc làm để nâng cao thu nhập. Họ thường phải ở trong môi trường sống chật hẹp, nhà kém chất lượng, không an toàn hoặc mất vệ sinh, không có không gian riêng tư.  Họ làm việc nhiều giờ, ít có thời gian thư giãn, hoặc học thêm, ít được hưởng các dịch vụ y tế, xã hội, ít có cơ hội gặp gỡ và giao tiếp. Họ thường tập trung làm việc trong một số ngành nghề nhất định, công việc không ổn định, hay bị thiệt thòi về lương bổng, bị chèn ép, thậm chí bị kỳ thị.

Vì đa số phải để dành tiền để gửi về cho gia đình hoặc trả nợ, họ thường không căm sóc bản thân cho chu đáo, ăn uống thất thường, có bệnh cũng không dám đi bác sĩ hoặc xin nghỉ làm. Đời sống tinh thần và tâm linh của những người tạm cư thường lỏng lẻo vì đa số họ phải sống xa gia đình và bạn bè. Thiếu những giải trí lành mạnh, cộng thêm sự cô đơn buồn chán dẫn đến một số tiêu cực và tệ nạn như mê game, bài bạc, rượu chè, quan hệ nam nữ bừa bãi. Đặc biệt là các phụ nữ và trẻ em thường bị thiệt thòi, thiếu vắng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tư vấn tâm lý dành riêng cho họ, chưa kể là họ còn có thể là nạn nhân của bạo hành, lạm dụng tình dục và buôn người.

 

GIÁO HỘI VÀ DI DÂN

Vấn đề di dân được Giáo Hội quan tâm cách riêng trong thế kỷ XX. Năm 1912, Đức Giáo Hoàng Piô X đặt một văn phòng đặc trách di dân. Năm 1952, Đức Giáo Hoàng Piô XII trong thông điệp Exsul familia nazarethana, văn kiện đầu tiên về di dân, đã kêu gọi các Giáo Hội địa phương chăm sóc cho những người tha hương qua các linh mục nói cùng ngôn ngữ và văn hóa với họ, giúp họ hòa nhập vào Giáo Hội địa phương. Các mục tử phải đối xử công bằng, không được phân biệt giữa người mới đến và người địa phương.

Trong thập niên 1960, đối diện với làn sóng người di dân, tha hương, và tị nạn tăng vọt từ các quốc gia đang phát triển, Giáo Hội hậu Công đồng Vatican II quan tâm nhiều hơn tới việc chăm sóc mục vụ. Trong Tự sắc Pastoralis migrantorum cura ( Chăm sóc Mục vụ Di dân) ban hành năm 1969, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI kêu gọi các Hội đồng Giám mục – một cơ chế mới thành lập sau Công đồng – lên kế hoạch và chương trình để chăm sóc mục vụ cho người nhập cư. Di dân phải được khuyến khích và giúp bảo tồn cách sống đạo theo văn hóa, ngôn ngữ và tập quán của họ.

Năm 1970, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thành lập một Hội đồng Tòa thánh cho việc chăm sóc mục vụ cho người di dân và khách du lịch. Đến năm 1989, Hội đồng này đổi tên thành Hội đồng Tòa thánh về Mục vụ cho người Di dân và Lưu động (PCMI: Pastoral Care of Migrants and Itinerant People). Năm 2014, Hội đồng PCMI ban hành văn kiện Erga migrantes caritas Christi (tình yêu Chúa Kitô hướng về di dân) về chăm sóc mục vụ cho di dân.5 Văn kiện này tổng hợp các quy chế về mục vụ di dân, không chỉ dành cho các tín hữu Công Giáo Roma  mà cả anh chị em Công giáo Đông phương, Chính thống, Tin lành và Hồi giáo. Việc chăm sóc mục vụ cho người di dân và tị nạn được xem như là phần cốt yếu của sứ mạng Tân Phúc âm hóa của Giáo Hội trong hoàn cảnh hiện nay. Thêm vào đó , Hội đồng PCMI cũng thường xuyên tổ chức các đại hội Mục vụ Di dân thế giới để các Giáo Hội địa phương chia sẻ và đúc kết kinh nghiệm mục vụ. Đại hội mới nhất diễn ra vào 17 – 21 tháng 11 năm 2014 với chủ đề “Hợp tác và Phát triển”.6

Tại Châu Á, một số Hội đồng Giám mục cũng quan tâm đến tình trạng di dân. Chủ đề được bàn thảo trong phiên họp khoáng đại lần thứ V của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC V) tại Bandung, Indonesia (1990). Các giám mục đã kêu gọi mọi người tỏ tình liên đới với và quan tâm đến anh chị em di dân, lao động nhập cư, tị nạn; lên án các hành vi kỳ thị, bóc lột, chà đạp nhân phẩm, không tôn trọng quyền con người, đối xử bất công với họ. Chủ đề di dân cũng được nhắc đến trong các kỳ họp khoáng đại của FABC những năm sau đó: FABC VI “Môn đệ Chúa Kitô tại Á châu Ngày nay” (Manila, 1995), FABC VII “Canh tân Giáo Hội tại Á châu trong Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ” (Samphran, Thái Lan, 2000) và FABC VIII “ Gia đình Á châu hướng tới một nền Văn hóa của Cuộc sống Tích hợp” (Daejeon, Hàn Quốc, 2004).

Năm 1993, văn phòng Phát triển con người ( Office of Human Development) của FABC đã tổ chức một cuộc hội thảo liên vùng tại HongKong để bàn về tình trạng người lao động xuất khẩu Philippine tại Á châu – một vấn đề nổi cộm trong thời đại toàn cầu hóa. Năm 1997 trong dịp hội thảo về “Hội thánh Á châu trong thế kỷ XXI” (tại Pattaya, Thái Lan), văn phòng cũng đưa ra một số gợi ý cụ thể cho việc mục vụ di dân, bao gồm các cuộc họp song phương của Ủy ban Di dân của Hội đồng Giám mục; triển khai các chương trình huấn luyện những tác viên mục vụ di dân ở cấp quốc gia và cấp địa phương; đưa việc mục vụ di dân vào các chương trình mục vụ chung trong giáo phận, đặc biệt tăng cường việc đối thoại và hợp tác giữa giáo phận gốc và giáo phận nơi di dân đang cư trú; nối kết các vấn đề của di dân với các vấn đề và chính sách lao động để tìm ra giải pháp đồng bộ.

Nhìn chung, các văn kiện và chính sách của Tòa thánh cũng như của các Giáo Hội địa phương có những đóng góp cụ thể vào việc chăm sóc mục vụ. Có lẽ vì hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam, mãi đến lần đại hội X (2007 – 2010) Hội đồng Giám mục Việt Nam mới thành lập Ủy ban Mục vụ Di dân để đáp ứng nhub cầu mục vụ cho người di dân trong và ngoài nước với Đức hồng y Phạm Minh Mẫn làm chủ tịch tiên khởi. Hiện nay, Đức cha Đỗ Mạnh Hùng phụ trách ủy ban này (từ tháng 10/2016).7

 

THẦN HỌC VỀ DI DÂN

Thần học về di dân cũng là thần học về con người, đặc biệt trong mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Tự bản chất, thần học về di dân là thần học mục vụ. Đối tượng của những suy tư thần học về người di dân đặt nền tảng trên ba khái niệm, hay ba chiều kích mà tôi sẽ trình bày vắn gọn dưới đây: Imago Dei (hình ảnh Thiên Chúa), Visio Dei (tầm nhìn Thiên Chúa) và Missio Dei (sứ mạng Thiên Chúa). Ba khái niệm thần học này diễn tả cách thức mà Thiên Chúa muốn hiện diện và chia sẻ vào đời sống con người.

Imago Dei

Yếu tố đầu tiên, và cũng là một khái niệm cơ bản không những trong tôn giáo và còn giá trị chung của thế giới văn minh là nhân vị và nhân phẩm. Mỗi con người có một địa vị, có một phẩm giá riêng biệt mà không ai có thể lấy đi được. Những luật lệ, quy ước quốc tế về nhân quyền đặt nền tảng trên khái niệm cơ bản này. Niềm tin Kitô giáo đã chỉ rõ là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei, St 1: 26 -28). Họ sinh ra trong tự do và bình đẳng làm con cái Chúa, và được quyền mưu cầu hạnh phúc. Khi nhân phẩm bị chà đạp, khi nhân vị không được tôn trọng, khi nhân quyền bị xóa bỏ thì imago Dei bị lu mờ.

Một trong những khó khăn nhất mà người di dân phải gánh chịu là thái độ kỳ thị, khinh rẻ - là kinh nghiệm không được đối xử như là con người (dehumanization). Không ít những di dân phải đối mặt với sự thù hằn, quy chụp, ganh ghét, thậm chí mạng sống bị coi rẻ chỉ vì họ là người nhập cư. Khi có những cuộc tranh chấp xung đột quyền lợi với dân địa phương, người di dân luôn luôn bị thiệt thòi. Họ bị quy chụp bằng những từ ngữ xấu xa nhất, như là súc vật, cặn bã, hay ký sinh trùng của xã hội. Họ có thể bị chửi bới, đánh đập, hoặc giết chết mà chẳng ai quan tâm.

Hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người, imago Dei, giúp chúng ta nhìn nhận giá trị chân thực nơi những con người mà xã hội thường bỏ qua. Nếu những người di dân chỉ được nhìn như những kẻ nhập cư lậu, những người tha phương cầu thực, những gánh nặng xã hội, hay những cỗ máy lao động sản xuất thì chúng ta sẽ dễ dàng làm ngơ, vô cảm trước nỗi khó khăn, thống khổ của họ. Không nhận ra imago Dei, chúng ta có thể không cần nhìn, không cần biết, không cần quan tâm đến những người này cho đến khi họ hiện diện trong đời sống của chúng ta.

Khởi đi từ khái niệm imago Dei, Giáo huấn Xã hội học Công giáo luôn quan tâm đến con người như một chủ thể chứ không phải một đối tượng hay công cụ kinh tế. Trong những cuộc tranh luận về chính sách phát triển kinh tế và xã hội, quyền lợi của những di dân thường bị bỏ qua. Di dân cũng là con người và có quyền như bao nhiêu người khác để được hưởng những gì cần thiết “để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền bảo tồn danh thơm tiếng tốt, quyền được kính trọng, quyền thông tin xứng hợp, quyền hành động theo tiêu chuẩn chính thực của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng trong cả phạm vi tôn giáo nữa cần thiết cho cuộc sống.” (Gaudium et Spes 26).

Tôn trọng nhân vị của người di dân là phải tạo điều kiện cho họ để được sống đúng với phẩm giá con người. Quan tâm đến nhân phẩm là xem xét đánh giá và lên tiếng cảnh báo về những chính sách hoặc quy định bất công, ngõ hầu những chính sách quy định này có thể được chỉnh sửa để tránh nạn phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào người di dân.

Visio Dei

Khái niệm nền tảng thứ hai của thần học di dân là nhìn những con người này trong viễn tượng của Thiên Chúa. Trong lịch sử mặc khải, Thiên Chúa đã tỏ mình ra trước hết cho các di dân (Abraham, Isaac, Giacóp) và người tị nạn (Mosê). Lịch sử của dân tuyển chọn cũng là lịch sử di dân: Abraham từ miền Ur xa xôi đi về Ai Cập rồi định cư ở Canaan. Trong thời Giôsep, con cháu ông Israen/Giacóp rời Canaan sang định cư ở Ai Cập, để rồi 400 năm sau đó dưới sự hướng dẫn của Mosê, họ đã vượt Biển đỏ trở về nguyên quán. Trải qua nhiều năm tháng gian khổ lưu lạc trong sa mạc, cuối cùng 12 chi tộc người Israen mới vào định cư ở đất hứa. Có thể nói kinh nghiệm lưu đầy, xa xứ, di cư là phần thiết yếu của lịch sử cứu độ. Ngay cả biến cố Nhập thể cũng có thể xem là một cuộc di cư của Con Thiên Chúa từ trời xuống thế, chịu khổ nạn, phục sinh rồi trở về trời (Phlp 2, 1-11) . Ngài đã trở nên đồng hình đồng dạng với tất cả các di dân của mọi thế hệ.

Thiên Chúa đã tỏ mình ra trước hết là Đấng Tạo Hóa, người Cha chung của muôn loài muôn vật. Mặc dù tội lỗi đã làm thế giới này trở nên hỗn loạn và con người xa cách nhau, Thiên Chúa vẫn hằng quan tâm đến thế giới của chúng ta, đặc biệt là những con người thấp cổ bé miệng, bên lề xã hội, mà thành phần di dân, người tha hương là chủ yếu. Ngài luôn thúc bách con người qua tiếng nói của lương tâm và lòng trắc ẩn để con người xích lại gần nhau, quan tâm đến nhau và tìm cách xây dựng một thế giới công bình và tốt đẹp hơn.

Trong biến cố Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã đi vào thế giới của nhân loại để hàn gắn những vết thương, xóa bỏ những bất công, nối lại tình người với người. Trong kinh nghiệm làm người, Đức Giêsu cũng đã trải qua thời thơ ấu như một người tị nạn ở Ai Cập (Mt 2, 13 – 17). Con Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận loài người của những người kém may mắn nhất, chịu đói chịu khát, không nhà không cửa, bị đồng hương thân thuộc hiểu lầm, từ chối (Mt 13, 54 – 57; Mc 3, 20 – 21; 6, 1 – 4; Lc 4, 13 – 20), bị đối xử bất công, kỳ thị vùng miền (Ga 7, 41 – 43.52), bị các môn đệ bán đứng, bỏ rơi, chối bỏ (Mc 14, 13 – 46; 50; 66 – 72), bị lên án như kẻ gây  rối (Lc 23, 1 – 5), bị đóng đinh như một tội phạm (Lc 23, 32 – 43), và chết tha hương (Mt 27, 57 – 60). Qua cuộc sống, sự chết và phục sinh của Ngài, Đức Giêsu Kitô đem lại cho những anh chị em di dân niềm an ủi sâu xa là Ngài hiểu họ và trở nên một với họ. Câu chuyện của Đức Giêsu Kitô đem lại cho người di dân niềm hy vọng vào một Thiên Chúa ở cùng với họ trong mọi hoàn cảnh, rằng kể cả trong những tình huống tuyệt vọng và chán chường nhất niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh có thể đem lại cho họ ánh sáng và bình an.

Missio Dei

Cả cuộc đời Đức Giêsu thành Nazaret, có thể nói cả sứ mạng của Ngài, là rao giảng về Nước Thiên Chúa (regnum Dei) – một thực tại tối hậu mà trong đó không còn một sự chia rẽ hay phân ly nào. Ngay từ đầu trong công cuộc rao giảng, Đức Giêsu đã mượn lời ngôn sứ Isaia để nói về sứ mạng của mình như sau: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Phúc Âm cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng” (Lc 4,18 – 19; Is 61, 1 – 2).

Nước Thiên Chúa là phần thiết yếu trong viễn tượng của Thiên Chúa (visio Dei) mà Đức Giêsu đã tỏ bầy cho chúng ta qua những lời rao giảng, cuộc sống và cách ứng xử của Ngài, đặc biệt là với ngoại kiều, phụ nữ và trẻ em, là những đối tượng bên lề xã hội trong xã hội Do Thái thời xưa. Qua những cuộc tiếp xúc với phụ nữ người Samari (Ga 4, 4 – 42), người phụ nữ Syrô – Phênixia (Mt 15, 24 – 28), viên quản đốc Roma (Mt 8, 5 – 13), người thu thuế Zakêu (Lc 19, 1 – 10), hay đồng bàn với người tội lỗi (Mt 9, 9 – 13), Đức Giêsu đã phá bỏ hàng rào ngăn cách phân biệt chủng  tộc, giai cấp và định kiến xã hội giữa người với người. Đức Giêsu không chỉ quan tâm đến họ, Ngài còn giúp cho họ được hội nhập trở lại cộng đồng qua việc chữa lành người phong hủi ( Mc 1, 40 – 45), đàn bà bị ô uế vì băng huyết (Mc 5, 25 – 34). Quan tâm, nâng đỡ, ủi an, và giúp cho họ hội nhập vào cộng đoàn, là cách mà Đức Giêsu thể hiện tình liên đới giữa người với người trong sứ mạng rao giảng về Nước Thiên Chúa.

Trong lời giảng và cách sống của Ngài, Đức Giêsu hướng con người đến viễn tượng của Thiên Chúa là tạo lập những tương quan mới trong cộng đồng nhân loại, vượt lên những ranh giới, định kiến xã hội – những tương quan không dựa trên vùng miền, giai cấp, chủng tộc, tiếng nói, địa vị, hay khả năng, nhưng dựa trên tương quan Cha – con với Thiên Chúa và anh chị em đồng loại với nhau.

Đức Giêsu đã thách đố những con người ở thời đại của Ngài có cái nhìn rộng mở hơn với kẻ khác, dựa trên lòng thương xót của thiên Chúa chứ không phải những khái niệm xã hội và luật lệ của con người. Đức Giêsu không đến để phá bỏ luật lệ, trật tự, kỷ cương, vốn là điều cần thiết cho mọi xã hội. Tuy nhiên Ngài kêu gọi mọi người đi đến với một luật cao hơn đó là luật bác ái vị tha, lấy con người làm gốc: “Ngày Sabátđược lập ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát” (Mc 2, 27).

Sứ mạng của Giáo Hội là tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô (missio Dei), Đấng được Chúa Cha sai đến vì loài người chúng ta. Ngày nay, Giáo Hội tiếp tục sứ mạng của Ngài để xây dựng Nước Thiên Chúa (regnum Dei), rao giảng về tình thương của Thiên Chúa, hòa giải và chữa lành những đổ vỡ giữa con người, và xây dựng một nền văn minh tình thương và sự thật, tôn trọng phẩm giá con người. Người tín hữu dân thân không chỉ việc bác ái, nhưng hơn thế nữa, xem việc dấn thân cho các đối tượng bên lề xã hội, những con chiên “lạc”, những đồng bạc bị “mất”, trong đó người di dân là ưu tiên mục vụ hàng đầu để xây dựng mỗi xã hội công bình và nhân ái hơn.

CHĂM SÓC MỤC VỤ CHO NGƯỜI DI DÂN

Từ những suy tư thần học, sau đây là một vài gợi ý trong việc chăm sóc mục vụ cho người di dân.

Thánh lễ và các Bí tích

Các thánh lễ cho người di dân nên được khuyến khích mở rộng để đáp ứng nhu cầu tâm linh của các người tạm cư, xa xứ. Mọi thành phần dân Chúa trong cộng đoàn địa phương cố gắng giúp anh chị em di dân chóng hội nhập và có cuộc sống tâm linh. Làm sao để những người di dân mau chóng gia nhập các giáo xứ, cộng đoàn địa phương, để họ có thể lãnh nhận các bí tích thường xuyên.

Hoạt động văn hóa, giải trí lành mạnh

Nhà thờ cũng còn là nơi các di dân gặp gỡ, sinh hoạt để cùng nâng đỡ và tương trợ trong đời sống tâm linh và xã hội. Các khóa tĩnh tâm, các buổi học hỏi/ chia sẻ lời Chúa, họp nhóm, sinh hoạt ca đoàn cũng là những dịp để người di dân cùng nhau thăng tiến trong đời sống đạo. Cần có một không gian sinh hoạt để các người tạm cư, nhất là công nhân lao động xa nhà đến với nhau để thư giãn, kết bạn, và vui chơi lành mạnh qua các hoạt động thể thao, văn nghệ, picnic, dã ngoại, v.v…

Tư vấn, giáo dục và chăm sóc sức khỏe

Người tạm cư cũng có nhu cầu được tư vấn về những luật lệ và quyền lợi lao động, trau dồi thêm tay nghề , ngoại ngữ, kiến thức để họ nhanh chóng hòa nhập vào xã hội và môi trường chung quanh. Có thể lập ra những chương trình dậy nghề, dậy kỹ năng sống, ngoại ngữ, giới thiệu việc làm để giúp những người di dân, đặc biệt những người lao động trẻ thăng tiến bản thân và đóng góp tốt hơn cho xã hội.

Ngoài ra, người di dân cũng cần được tư vấn về đời sống tinh thần giúp họ vượt qua những nỗi cô đơn, khủng hoảng trong cuộc sống. Cần đặc biệt chú ý đến khía cạnh gia đình của những người di dân. Tình trạng chia cắt xa nhà của di dân dễ làm quan hệ gia đình của họ lỏng lẻo, dễ bị tổn thương. Đặcbiệt các chị em phụ nữ xa chồng, con, cần phải được giúp đỡ để tránh tình trạng đổ vỡ gia đình khi gặp quá nhiều áp lực trong cuộc sống.

Nên liên kết những trạm y tế, phòng khám miễn phí để giúp các di dân nghèo được tiếp cận với những dịch vụ y tế, khám bệnh, lấy thuốc, được tư vấn về dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh, phòng bệnh.

Bảo vệ trước pháp luật

Trong một số trường hợp, các di dân bị làm dụng tình dục, bạo hành, là nạn nhân của việc lừa đảo, bắt cóc, buôn người. Điều này thường xảy ra ở những người đi làm việc ngoài nước, đặc biệt phụ nữ và trẻ em. Đây cũng là một mối quan tâm chung của xã hội, và đòi hỏi nhiều công sức cũng như hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền ở các nước sở tại và hầu giải cứu họ đưa về nước.

Việc nhập cư trái phép còn dẫn đến tình trạng lạm dụng và bạo hành người lao động di dân. Các tín hữu cùng chung tay vận động để chính quyền có những chính sách lao động đúng đắn để người di dân có những cơ hội tìm việc làm và những điều kiện sống tốt hơn cũng như giảm thiểu tình trạng buôn bán và bóc lột người lao động nhập cư.

Cần cộng tác với các tổ chức thiện nguyện địa phương tìm cách chăm sóc cho những anh chị em này. Việc lập các mạng lưới xã hội, kênh thông tin để thông báo rộng rãi tình trạng của những anh chị em này cho những cơ quan hữu trách và những cá nhân quan tâm, cũng là một phương tiện hữu hiệu để giảm thiểu những nỗi đau của những mảnh đời bất hạnh.

Trên đây chỉ là một vài gợi ý mục vụ chăm sóc tinh thần và quan tâm cho những anh chị em di dân tạm thời. Đối với những di dân vĩnh viễn, cần có những chương trình, kế hoạch chung nhằm giúp họ mau chóng hòa nhập vào Giáo Hội địa phương.

TẠM KẾT

Một nền thần học về di dân cố gắng diễn đạt một cái nhìn về con người trong hình ảnh Thiên Chúa (imago Dei). Đây là một nỗ lực suy tư về đức tin để làm sao hóa giải những xung khắc, căng thẳng giữa những định chế của nhân loại và tầm nhìn của Thiên Chúa (visio Dei) được hoàn thành nơi triều đại/ vương quốc của Ngài (regnum Dei). Sứ mạng của Giáo Hội là tham gia vào sứ mạng của Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Kitô (missio Dei) – sứ mạng cứu độ con người.

Việc quan tâm, chăm sóc cho người di dân về đời sống tinh thần và vật chất là cách người Công giáo sống tin mừng cứu độ. Việc thể hiện đức ái với những anh chị em này là cách chúng ta gặp gỡ chính Đức Kitô, Đấng hiện diện trong những người bé mọn, nghèo hèn, bị bỏ rơi của xã hội. Đằng sau những con người di dân, bơ vơ, những người bị chà đạp, bóc lột, thấp cổ bé miệng, chính là Chúa Kitô, Đấng mà chúng ta sẽ gặp khi tính sổ cuộc đời trong ngày sau hết. “vì xưa Ta đói các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước; Ta trần truồng các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù các ngươi đã đến thăm…” (Mt 25, 34 – 36).

 

 

_____________________________________________

1 theo World Migrant Report 2015 ( http: // publications.iom.int/sustem/files/wmr2015_en.pdf).

2 Theo số liệu của Học Viện Ngoại giao năm 2012, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 4 triệu người và phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% tring số đó tập trung ở 21 nước Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á, và Úc. Xem: http://www.tgvn.com.vn/Item/Vn/KieuBao/2012/8/AC00DE8998409F1F/

3 Theo một phúc trình của Liên Hợp Quốc năm 2010 về tình trạng di dân trong nước, năm 2004 – 2009 cí 6,6 triệu người di dân trong và ngoài tỉnh ở VN đa phần về lý do kinh tế. Xem “Di cư trong nước: cơ hội và tách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam”: http://vietnam.unfpa.org/sites/asiapacific/files/pub-pdf/Migration%20Main%20Paper_VIE_FINAL.pdf

4 Xem phúc trình “Di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam” (2014).  www.vn.undp.org/.../vietnam/.../Migration%20and%20climate%20change_BW_VN.pdf.

5 Xem bản tiếng Anh của văn kiện này tại: http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/migrants/documents/rc_pc_migrants_doc_20040514_erga-migrantes-caritas-christi_en.html

 

6 Xem văn kiện đúc kết tại http://hdgmvietnam.org/van-kien-ket-thuc-dai-hoi-muc-vu-di-dan-the-gioi-lan-vii-nam-2014/6845.115.3.aspx

 

7 Xem trang web của Ủy ban Mục vụ Di dân: http://hdgmvietnam.org/21.aspx.